+84865766989
Camera
xuất hiện ngày càng phổ biến tại văn phòng, nhà xưởng và các địa điểm làm việc.
Đối với doanh nghiệp, đây có thể là công cụ nhằm bảo đảm an ninh, quản lý tài sản
hoặc kiểm soát hoạt động tại nơi làm việc. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp
có nhu cầu giám sát không đồng nghĩa với việc có thể tự do thu thập và sử dụng
dữ liệu của người lao động. Một quy định mới đáng chú ý về bảo vệ dữ
liệu cá nhân đã đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp khi sử dụng camera, phần mềm
theo dõi hoặc các biện pháp công nghệ khác để thu thập dữ liệu của người lao động.
Nếu thực hiện không đúng quy định, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với mức phạt
lên đến 70 triệu đồng.
Theo
điểm c khoản 2 Điều 61 Nghị định 330/2026/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, hành vi sử dụng biện
pháp công nghệ, kỹ thuật để thu thập dữ liệu cá nhân của người lao động nhưng
không bảo đảm để người lao động biết rõ về biện pháp đó có thể bị xử
phạt từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với tổ chức.
Quy
định này bao gồm các hình thức giám sát tại nơi làm việc như sau:
-
Camera giám sát;
-
Phần mềm theo dõi thiết bị;
-
Thiết bị hoặc giải pháp công nghệ có khả năng thu thập dữ liệu của người lao động.
Như
vậy, doanh nghiệp cần phải minh bạch về việc thu thập dữ liệu,
để người lao động biết mình đang được thu thập dữ liệu thông qua biện pháp công
nghệ nào.
- Lưu trữ dữ liệu cá nhân
của người lao động vượt quá thời hạn quy định của pháp luật hoặc vượt quá thời
hạn đã thỏa thuận;
- Không thực hiện xóa, hủy
dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp
theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác;
- Áp dụng biện pháp công
nghệ, kỹ thuật để thu thập dữ liệu cá nhân của người lao động không phù hợp với
quy định của pháp luật hoặc không bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao
động.
Điều
này cho thấy doanh nghiệp cần xây dựng quy trình quản lý dữ liệu từ thời
điểm thu thập cho đến khi sử dụng, lưu trữ và xóa dữ liệu.
Ngoài ra, vi phạm có thể kéo theo nghĩa vụ xóa dữ liệu. Căn cứ khoản 4
Điều 61 Nghị định 330/2026/NĐ-CP,
đối với hành vi thu thập dữ liệu cá nhân của người lao động bằng biện pháp công
nghệ, kỹ thuật mà không bảo đảm người lao động biết rõ, tổ chức, cá nhân vi phạm
còn có thể bị buộc hủy, xóa dữ liệu cá nhân đã thu thập, xử lý trái quy
định đến mức không thể khôi phục.
Vì
vậy, nếu doanh nghiệp đang sử dụng camera hoặc các phần mềm, thiết bị có khả
năng thu thập dữ liệu tại nơi làm việc, việc rà soát quy trình bảo vệ dữ liệu
là cần thiết để hạn chế rủi ro pháp lý.
Mức
50 triệu đồng đến 70 triệu đồng theo Điều 61 Nghị định
330/2026/NĐ-CP là mức phạt được áp dụng đối với tổ chức.
Trường
hợp cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì căn cứ theo khoản
1 Điều 7 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, mức phạt sẽ bằng một phần hai mức phạt đối với
tổ chức, tương ứng từ 25 triệu đồng đến 35 triệu đồng.
Như
vậy, doanh nghiệp đang sử dụng camera hoặc các công cụ công nghệ để giám sát tại
nơi làm việc nên chủ động rà soát:
-
Dữ liệu nào đang được thu thập;
-
Thông tin cho người lao động về việc sử dụng công cụ công nghệ để giám sát;
-
Xoá dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động;
-
Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong việc thu thập và sử dụng
dữ liệu.
Chủ
động hoàn thiện quy trình ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu
quản lý, vừa hạn chế những rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động.
Việc
sử dụng camera tại nơi làm việc có thể phục vụ những nhu cầu chính đáng của
doanh nghiệp như bảo đảm an ninh, bảo vệ tài sản và quản lý hoạt động. Tuy
nhiên, quyền quản lý của doanh nghiệp cần được thực hiện song song với
trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của người lao động.
