+84865766989
Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao
động vẫn có thể được doanh nghiệp thanh toán các khoản tiền lương, tiền công
hoặc khoản thu nhập khác phát sinh trong thời gian làm việc. Vậy các khoản thu
nhập được chi trả sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt có phải chịu thuế thu
nhập cá nhân (TNCN) hay không và doanh nghiệp phải thực hiện khấu trừ thuế như
thế nào?
Theo Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ban hành ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số
điều và biện pháp để tổ chức hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân,
việc khấu trừ thuế đối với các khoản thu nhập này được thực hiện tùy thuộc vào
trường hợp cụ thể của người nhận thu nhập. Đối với người lao động đã chấm dứt
hợp đồng lao động, pháp luật quy định cơ chế khấu trừ thuế riêng tại khoản 2
Điều 50 Nghị định này. Các quy định cụ thể như sau:
1. Quy tắc
chung về khấu trừ thuế
Căn cứ khoản 1 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, trừ một số trường hợp đặc biệt, tổ chức, cá nhân khi chi
trả thu nhập cho người nộp thuế phải thực hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã
khấu trừ của cá nhân dựa trên các căn cứ sau:
- Thu
nhập tính thuế tháng (đối với các khoản thu nhập do tổ chức, cá nhân chi trả,
chi trả thay cho cá nhân);
- Biểu
thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều
9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Theo đó, căn cứ khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân, biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định như sau:

Như vậy, về nguyên tắc, việc khấu trừ thuế TNCN và nộp số thuế đã khấu trừ
đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được thực hiện căn cứ theo thu nhập tính thuế và biểu
thuế lũy tiến từng phần. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp đặc thù,
pháp luật quy định cơ chế khấu trừ riêng. Vì vậy, cần căn cứ vào tình trạng của người lao động
và tính chất khoản thu nhập tại thời điểm chi trả để xác định phương pháp khấu trừ phù
hợp.
2. Trường hợp
khấu trừ thuế đối với tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công,
tiền thù lao, tiền chi khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động
Căn cứ theo khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, đối với cá nhân cư
trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, và đối với người
lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động thực hiện việc
trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác như sau:
- Trường hợp mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần
trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ
lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân;
- Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần
thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân
có yêu cầu.
- Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải
khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế
của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có
thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý
thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa
khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về
bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy
định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
- Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập
không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng
hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu
ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
- Đối với cá nhân cư trú
ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực
hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy tắc chung về khấu
trừ thuế, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều
nơi.
Như vậy, đối
với người lao động đã chấm dứt hợp đồng, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện khấu
trừ thuế khi chi trả tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập thuộc diện
khấu trừ. Theo đó, khoản chi trả từ
05 triệu đồng/lần trở lên bị
khấu trừ 10%; khoản dưới 05 triệu đồng/lần chỉ khấu trừ khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp đủ điều kiện và có cam kết theo quy định thì có thể tạm thời không bị khấu
trừ thuế.
Tổng kết lại,
căn cứ theo Nghị định số
253/2026/NĐ-CP, người lao động nhận lương sau khi nghỉ việc vẫn có thể
phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN, tức việc chấm dứt hợp đồng không làm
mất đi nghĩa vụ thuế đối với khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công. Trong
trường hợp đó, người sử dụng lao động căn cứ vào mức chi trả và điều kiện của
cá nhân để thực hiện
khấu trừ theo quy định của pháp luật.
