+84865766989
Từ
ngày 30/06/2026, việc kiểm định khí thải
đối với xe mô tô, xe gắn máy chính thức được triển khai theo quy định mới của
Nhà nước. Đây không chỉ là bước tiến quan trọng trong công tác quản lý phương
tiện giao thông mà còn là giải pháp thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm không
khí, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hướng tới một môi trường sống xanh – sạch – đẹp.
Luật mới này sẽ tác động trực tiếp đến hàng triệu người dân đang sử dụng xe máy
(phương tiện di chuyển phổ
biến nhất tại Việt Nam),
đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về trách nhiệm và ý thức của mỗi cá nhân
trong việc chung tay bảo vệ môi trường.
1.
Kiểm định khí
thải xe mô tô, xe gắn máy là gì?
Kiểm
định khí thải xe máy, hay còn gọi là đăng kiểm khí thải, là quá trình đo
lường lượng khí thải mà xe máy thải ra môi trường. Trong đó, các chỉ số như CO
(carbon monoxide) và HC (hydrocarbon chưa cháy hết) sẽ được kiểm tra bằng thiết
bị chuyên dụng.
Mục
tiêu chính của kiểm định khí thải là đảm bảo phương tiện đang lưu thông không
thải ra lượng khí vượt quá mức quy định. Điều này góp phần giảm ô nhiễm không
khí, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phù hợp với xu hướng phát triển bền vững mà
Việt Nam đang hướng tới.
2.
Chu kỳ và thủ
tục kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy
Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư 47/2024/TT-BGTVT thì chu kỳ kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy như sau:

(*)
60 tháng tính từ ngày xuất xưởng xe mô tô, xe gắn máy. Trường hợp xe mô tô, xe
gắn máy trong cơ sở dữ liệu không có thông tin về ngày xuất xưởng thì tính từ
ngày 31 tháng 12 của năm sản xuất xe.
Năm sản xuất của xe được sử dụng làm căn cứ để xác định
chu kỳ kiểm định.
Ví dụ: Xe
cơ giới có năm sản xuất 2025 thì:
-
Đến hết 31/12/2027
được tính là đã sản xuất đến (trong thời gian) 2 năm (2027 - 2025 = 02 năm).
-
Từ 01/01/2028 được
tính là đã sản xuất trên 2 năm (2028 - 2025 = 03 năm).
Thủ
tục kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy (Điều
27 Thông tư 47/2024/TT-BGTVT)
-
Đối với các xe mô tô, xe
gắn máy có thời gian tính từ năm sản xuất đến 05 năm, chủ xe không phải
nộp hồ sơ kiểm định khí thải và không phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm
để kiểm định khí thải.
-
Đối với xe mô tô, xe gắn
máy có thời gian tính từ năm sản xuất trên 05 năm thì chủ xe phải mang
xe đến cơ sở đăng kiểm để kiểm định khí thải.
Chủ
xe xuất trình một trong các giấy tờ sau: bản chính chứng nhận đăng ký xe; bản
sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính chứng nhận
đăng ký xe; bản chính giấy hẹn cấp chứng nhận đăng ký xe.
·
Trường hợp nộp hồ sơ trực
tiếp: cơ sở đăng kiểm thực hiện kiểm định khí thải ngay trong ngày nhận đủ
hồ sơ, nếu kết quả kiểm định không đạt yêu cầu, cơ sở đăng kiểm lập thông báo gửi
cho chủ xe; trường hợp kết quả đạt yêu cầu thì cơ sở đăng kiểm cấp giấy chứng
nhận kiểm định khí thải theo thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận kiểm định
khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy.
·
Trường hợp nộp hồ sơ trực
tuyến: cơ sở đăng kiểm xác nhận lịch hẹn kiểm định khí thải đồng thời thông
báo với chủ xe về thời gian thực hiện kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy.
Khi chủ xe đưa xe mô tô, xe gắn máy đến thì cơ sở đăng kiểm thực hiện như trên.
1. Thông số khí thải CO và HC trong quy định mới là gì?
Trên
thực tế, động cơ đốt cháy dù sạch đến đâu thì nó vẫn tạo ra một số sản phẩm phụ,
tức là các chất ô nhiễm. Sự phát thải của nhiều chất gây ô nhiễm không khí đã
được chứng minh là có nhiều tác động tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường
tự nhiên. Trong thông tư mới, hai thông số người dân cần quan
tâm có thể hiểu đơn giản như sau:
-
Carbon monoxide (CO): Một sản phẩm của quá
trình đốt cháy không hoàn toàn. Khi hít phải carbon monoxide làm giảm khả năng
vận chuyển oxy của máu; tiếp xúc quá mức (ngộ độc carbon monoxide) có thể gây tử
vong.
-
Hydrocacbon (HC): Được tạo ra do nhiên liệu
được đốt cháy một phần, hydrocacbon là chất độc. Hydrocacbon là nguyên nhân
chính gây ra khói mù, có thể là một vấn đề lớn ở các khu vực thành thị. Tiếp
xúc lâu dài với hydrocacbon góp phần gây ra bệnh hen suyễn, bệnh gan, bệnh phổi
và ung thư.
2.
Quy định mới
với mỗi thông số khí thải từ 30/06/2026
Theo Mục 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ của Thông tư 92/2025/TT-BNNMT quy định về giá trị giới hạn tối đa cho phép của các thông số CO, HC trong khí thải xe máy lắp động cơ cháy cưỡng bức tham gia giao thông đường bộ được quy định trong bảng sau đây:

Trong đó, mức
là giá trị giới hạn tối đa cho phép đối với từng thông số HC, CO trong khí thải
xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ, được quy định tại Mục 2 (Quy
định kỹ thuật) Quy chuẩn này, bao gồm: mức 1, mức 2, mức 3 và mức 4.
Ppm dùng để chỉ lượng
của một chất nào đó có trong một hỗn hợp. Với mỗi đơn vị mà lượng ở đây sẽ được đo bằng các cách khác
nhau như bằng thể tích, bằng khối lượng hoặc bằng số hạt. Vì đơn vị
đo của ppm rất nhỏ nên chức năng chính là để đo cho khí hiếm hoặc kim loại. Nồng
độ của một chất chỉ có 1ppm tương ứng với 1 mlg/l chất dung dịch thì được coi
là một chất cực kỳ loãng.
Ta thấy rằng, nồng độ CO tối đa
cho phép sẽ được siết chặt dần từ 4,5% (Mức 1) xuống còn 2% (Mức 4). Đối với nồng
độ HC, giới hạn cho động cơ 4 kỳ được điều chỉnh giảm từ 1.500ppm xuống
1.000ppm; đặc biệt đối với động cơ 2 kỳ, giới hạn này giảm mạnh từ mức
10.000ppm xuống còn 2.000ppm.
Về tổ chức thực hiện, việc kiểm định khí thải
phải do các cơ sở được chứng nhận đủ điều kiện thực hiện theo quy định của pháp
luật. Ngoài ra, thiết bị đo khí thải phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật tại QCVN 103:2024/BGTVT
và các quy định đo lường liên quan.
Theo phân công chức năng nhiệm vụ, Bộ Xây dựng sẽ tổ
chức thực hiện việc kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao
thông đường bộ. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Xây dựng cũng sẽ ban hành
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp đo khí thải đối với các phương tiện
này.
Kiểm định khí thải xe mô tô,
xe gắn máy từ ngày 30/06/2026
không chỉ là một quy định pháp luật mới mà còn là lời nhắc nhở mạnh mẽ về trách
nhiệm của mỗi người dân trong việc bảo vệ môi trường sống. Khi tất cả chúng ta
cùng tuân thủ, lợi ích không chỉ dừng lại ở việc giảm thiểu ô nhiễm không khí,
mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng hình ảnh đô thị văn
minh, hiện đại. Đây là bước đi cần thiết để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu
phát triển bền vững, vì một tương lai xanh cho thế hệ mai sau.