+84865766989
Từ ngày 21/07/2026,
Nghị định số 288/2026/NĐ-CP có hiệu lực và bổ sung quy định về xử phạt vi phạm
hành chính đối với các hành vi vi phạm liên quan đến việc kê khai, cung cấp
thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Các quy định này nhằm nâng
cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc kê khai, cung cấp thông tin đầy đủ,
chính xác trong quá trình thành lập doanh nghiệp, cũng như theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, qua đó tăng cường tính minh bạch trong hoạt động
đăng ký và quản lý doanh nghiệp.
1. Thời hiệu và thời điểm xác định
thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thành lập doanh nghiệp
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Nghị định số
122/2021/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực đăng ký
doanh nghiệp, trong đó có vi phạm về kê khai, cung cấp thông tin về chủ sở hữu
hưởng lợi của doanh nghiệp là 01 năm.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP,
các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 46 và Điều 48 Nghị định số
122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 và Điều 4 Nghị định số
288/2026/NĐ-CP về vi phạm trong thành lập doanh nghiệp và vi phạm về chế độ báo cáo, cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu
của cơ quan đăng ký kinh doanh và cung cấp thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của
doanh nghiệp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xem là hành vi vi
phạm hành chính đang thực hiện. Theo đó, thời hiệu xử phạt được tính từ thời điểm
phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp hành vi vi phạm đã kết thúc thì thời hiệu
được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
2. Mức xử phạt đối với hành vi
vi phạm về kê khai, cung cấp thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp từ
ngày 21/07/2026
Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị định
122/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp, trong đó có vi phạm về kê khai, cung cấp thông
tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp là 100.000.000 đồng.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 122/2021/NĐ-CP,
mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về kê khai, cung cấp thông tin về
chủ sở hữu hưởng lợi được áp dụng đối với tổ chức. Đối với cùng một hành vi vi
phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 (một phần hai) mức
phạt tiền đối với tổ chức.
2.1. Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm về
kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp
Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 46 Nghị
định số 122/2021 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 3 Nghị định số
288/2026/NĐ-CP, hành vi không kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của
doanh nghiệp (nếu có), thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh
nghiệp (nếu có) tại thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thành lập
có thể bị xử phạt từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức và từ
25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân.
Ngoài ra, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm còn bị
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng
lợi, thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi căn cứ theo quy định tại điểm d
khoản 5 Điều 46 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2
Điều 3 Nghị định số 288/2026/NĐ-CP.
2.2. Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm về cung
cấp thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp
Căn cứ theo khoản 1 Điều 48 Nghị định số
122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 4 Nghị định số 288/2026/NĐ-CP,
hành vi báo cáo, cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi không đầy đủ nội
dung hoặc không đúng thời hạn khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức và từ
10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân. Bên cạnh hình thức phạt tiền,
căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 48 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP, được
sửa đổi, bổ sung bởi Điều 4 Nghị định số 288/2026/NĐ-CP, cá nhân, tổ chức vi phạm
có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc bổ sung nội dung còn thiếu
về chủ sở hữu hưởng lợi.
Đối với hành vi không báo cáo, không cung cấp thông
tin về chủ sở hữu hưởng lợi theo yêu cầu hoặc báo cáo, cung cấp thông tin không
trung thực, không chính xác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có
thể bị xử phạt từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức và từ
25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với cá nhân căn cứ theo quy định tại
khoản 3 Điều 48 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 4
Nghị định số 288/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gửi báo cáo hoặc cung cấp thông tin về chủ
sở hữu hưởng lợi.
Như vậy, từ ngày 21/07/2026, cá nhân, tổ chức có thể bị xử phạt nếu không thực hiện
đúng quy định về kê khai, báo cáo hoặc cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về
chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá
nhân, tổ chức vi phạm không chỉ bị áp dụng hình thức phạt tiền mà còn phải thực
hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Do đó, cá nhân, tổ chức cần
chủ động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai, cập nhật và cung cấp thông tin về
chủ sở hữu hưởng lợi để bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và hạn chế rủi
ro pháp lý trong quá trình hoạt động.
