+84865766989
Trong bối cảnh Việt Nam
đẩy mạnh chuyển đổi số, việc chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu ngày càng
giữ vai trò quan trọng đối với quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Đáng chú ý, ngày 19/08/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP, có
hiệu lực từ ngày 01/09/2026, về định danh địa điểm. Văn bản này quy định việc
định danh các địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam; đồng thời thiết lập cơ chế xây
dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm,
cũng như xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan.
Vậy định danh địa điểm
là gì? Mỗi địa điểm sẽ được cấp mã như thế nào? Cá nhân, tổ chức được khai thác
những thông tin gì từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm?
1. Định danh địa điểm là
gì?
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định số 326/2026/NĐ-CP, khái niệm về “định danh địa điểm” và “đối tượng được định
danh địa điểm” được định nghĩa như sau:
“Điều
2. Giải thích từ ngữ
1. Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo
lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này
với địa điểm khác.
2. Đối tượng được định danh địa điểm là các thửa
đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc
bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo
Nghị định này.”
Điều này cho thấy phạm
vi định danh địa điểm tương đối rộng, hướng tới việc xây dựng một hệ thống dữ
liệu thống nhất về các địa điểm và đối tượng vật lý trên phạm vi toàn quốc.
2. Mỗi địa điểm được cấp
một mã định danh gồm 12 chữ số
Căn cứ Điều 4 Nghị định
số 326/2026/NĐ-CP,
cấu trúc định danh địa điểm được quy định như sau:
-
Mã
định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh
địa điểm xác lập.
-
Mỗi
địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn
định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông
tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Như vậy, mỗi địa điểm sẽ
được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp. Mã này không chỉ có ý
nghĩa trong việc phân biệt các địa điểm mà còn được thiết kế để có khả năng kết
nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
chuyên ngành. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước chuẩn hóa
dữ liệu địa điểm và tăng khả năng liên thông giữa các hệ thống dữ liệu trong
quá trình chuyển đổi số.
3. Cơ sở dữ liệu định
danh địa điểm được xây dựng trên phạm vi toàn quốc
Căn cứ khoản 1 Điều 5
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP, Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được quy định như sau:
-
Cơ sở
dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất
trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa
điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 326/2026/NĐ-CP.
Cơ sở dữ liệu này có thể
chứa nhiều nhóm thông tin liên quan đến địa điểm như mã định danh, đối tượng
định danh, địa chỉ, lối tiếp cận, mã bưu chính, tọa độ, trạng thái hoạt động,
tên địa điểm…,
đóng vai trò là một cơ sở dữ liệu tập
trung, thống nhất giúp tạo nền tảng cho việc đồng bộ dữ liệu giữa các cơ sở dữ
liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, qua đó hạn chế tình trạng dữ liệu
phân tán hoặc thiếu thống nhất giữa các hệ thống.
4. Đối tượng nào được khai thác dữ liệu định danh địa điểm?
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định, dữ liệu định danh địa điểm được kết nối,
chia sẻ, khai thác phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Việc
chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm phải đúng mục đích, phạm vi và
thẩm quyền; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành
chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu
định danh địa điểm.
Căn cứ khoản 2 Điều 7
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP, đối tượng, phương thức khai thác thông tin
trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được quy định như sau:
-
Tổ
chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên ứng
dụng định danh quốc gia (VNeID);
-
Cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác
thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, nền tảng định danh
và xác thực điện tử và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu khác theo quy
định của pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà
nước;
-
Tổ
chức, cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu định danh
địa điểm thông qua ứng dụng định danh quốc gia. Trường hợp khai thác thông tin của người bị mất năng lực hành vi
dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi
phải được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ; trường hợp
người bị tuyên bố mất tích phải được sự đồng ý của người đang quản lý tài sản
của người đó; trường hợp người đã chết phải được sự đồng ý của người thừa kế;
-
Người
bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi, người dưới 14 tuổi khai thác thông tin của mình thông qua người đại diện
hợp pháp hoặc người giám hộ. Việc khai thác thông tin của người bị tuyên bố mất
tích do người quản lý tài sản của người đó quyết định;
-
Tổ
chức, cá nhân không thuộc các trường trên được khai thác dữ liệu về định danh địa điểm qua tổ chức cung cấp
dịch vụ xác thực điện tử và phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin. Trường hợp có nhu cầu khai thác thông tin
khác trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, phải được sự đồng ý của chủ sở
hữu, quản lý địa điểm đó.
Như vậy, dữ liệu định
danh địa điểm vừa phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, vừa
tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong việc khai thác thông tin. Tuy nhiên,
việc khai thác phải đúng mục đích, phạm vi, thẩm quyền và tuân thủ các điều
kiện về bảo vệ dữ liệu theo quy định pháp luật.
5. Phân loại dữ liệu định danh địa điểm
Căn cứ khoản 3 Điều 7
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP, dữ liệu định danh địa điểm được phân thành hai
nhóm:
-
Thứ
nhất, dữ liệu công khai bao gồm: Mã định danh địa điểm; Đối tượng định danh địa điểm; Địa chỉ của địa điểm; Lối tiếp cận; Mã bưu
chính; Thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia
VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ
biên); Trạng thái hoạt động của địa điểm: đang
hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính
chất của địa điểm; Tên địa điểm; Dấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có); Thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa
điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên;
thông tin mô tả địa chỉ.
-
Thứ hai, dữ liệu không
công khai bao gồm: Các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); Thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có); Thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm
(nếu có); Cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên
cơ quan, số định danh tổ chức); Cơ quan, tổ chức, cá
nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có); Các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối,
chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Việc khai thác, chia sẻ dữ liệu không công khai
phải tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà
nước.
Theo
đó, việc xây dựng Cơ sở dữ
liệu định danh địa điểm không đồng nghĩa với việc mọi thông tin về một địa điểm
đều được công khai. Pháp luật đồng thời đặt ra cơ chế phân loại và giới hạn
quyền tiếp cận đối với từng nhóm dữ liệu.
Nhìn chung, Nghị định số 326/2026/NĐ-CP đã thiết lập cơ sở pháp lý cho việc định danh, quản lý và khai thác dữ liệu địa điểm trên phạm vi toàn quốc. Việc chuẩn hóa và liên thông dữ liệu được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong khai thác thông tin, đi đôi với yêu cầu bảo đảm an toàn dữ liệu và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.