Công ty luật TNHH XTVN
Gọi Ngay
+84865766989
Chúng tôi luôn làm việc tận tâm trong mọi  Cuộc gọi ngay bây giờ
Hỏi đáp TIN GIẢ, TIN SAI SỰ THẬT LÀ GÌ? TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN  VỀ PHÒNG, CHỐNG TIN GIẢ, TIN SAI SỰ THẬT.


Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng phổ biến, tin giả, tin sai sự thật có thể nhanh chóng lan truyền, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời tác động đến trật tự, an toàn xã hội. Đáng chú ý, ngày 19/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 05/10/2026, quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật. Đây là Nghị định đầu tiên quy định riêng về lĩnh vực này tại Việt Nam, qua đó thiết lập khuôn khổ pháp lý cụ thể cho việc nhận diện, phân loại, kiểm chứng và xử lý tin giả, tin sai sự thật, đồng thời xác định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Vậy pháp luật xác định tin giả, tin sai sự thật như thế nào? Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm gì khi phát hiện hoặc tiếp xúc với những thông tin này?

1. Tin giả, tin sai sự thật là gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP, tin giả, tin sai sự thật được định nghĩa là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức gồm các loại thông tin: Thông tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin giả mạo, thông tin bịa đặt, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc.  

Điều này cho thấy không phải mọi thông tin không chính xác đều mặc nhiên được xem là tin giả, tin sai sự thật, đồng thời phải chứa yếu tố xâm hại đến các lợi ích được pháp luật bảo vệ.

2. Tin giả, tin sai sự thật được phân loại như thế nào?

Căn cứ Điều 4 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP, việc phân loại tin giả, tin sai sự thật được dựa theo hai tiêu chí mức độ nguy hại và pháp luật về tiếp cận thông tin như sau:

Điều 4. Phân loại tin giả, tin sai sự thật

1. Phân loại theo độ nguy hại gồm:

a) Tin giả, tin sai sự thật gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng gồm các thông tin tác động tiêu cực trên quy mô lớn đến an ninh quốc gia, quốc phòng, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; xâm hại đến uy tín của Đảng, Nhà nước; uy tín, danh dự của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; hoặc có khả năng gây khủng hoảng truyền thông, kích động bạo loạn, gây hoang mang sâu sắc trong dư luận xã hội;

b) Tin giả, tin sai sự thật nguy hại bao gồm thông tin tác động trong phạm vi hẹp, xâm hại trực tiếp đến uy tín, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể.

2. Phân loại theo pháp luật về tiếp cận thông tin gồm:

a) Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân không được tiếp cận;

b) Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện;

c) Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận.

Việc phân loại theo độ nguy hại giúp cơ quan có thẩm quyền đánh giá mức độ tác động, hậu quả hoặc nguy cơ hậu quả của thông tin, từ đó xác định mức độ ưu tiên và biện pháp xử lý phù hợp. Trong khi đó, phân loại theo pháp luật về tiếp cận thông tin giúp xác định phạm vi thông tin có thể được công bố, từ đó bảo đảm việc xử lý tin giả không làm phát sinh việc công khai trái quy định. Vì vậy, hai cách phân loại vừa giúp quản lý mức độ rủi ro, vừa bảo đảm kiểm soát phạm vi công khai thông tin trong quá trình phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.

3. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm gì trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật?

Căn cứ Điều 2 và Điều 22 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP những đối tượng có trách nhiệm trong việc phòng, chống tin giả gồm:

-         Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam.

-         Người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam.

-         Tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, mạng xã hội và thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam.

-         Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến vi phạm pháp luật về tin giả, tin sai sự thật ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Căn cứ khoản 1 Điều 22 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức thuộc Điều 2 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP, trừ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam bao gồm:

-         Tuân thủ pháp luật về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật và các quy định liên quan;

-         Phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin với các đơn vị chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức các mặt công tác phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;

-         Tố giác tin giả, tin sai sự thật với các cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ khoản 2 Điều 22 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam bao gồm:

-         Tuân thủ quy định pháp luật về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;

-         Bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thông tin, truyền thông;

-         Tổ chức các biện pháp kiểm soát để phòng, chống tin giả, tin sai sự thật gồm:

+ Thiết lập các biện pháp để phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật sau khi đã gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật theo quy định;

+ Thiết lập cơ chế báo cáo vi phạm cho người dùng, không cho phép đăng tải, phát tán, chia sẻ thông tin khi thông tin đã được cơ quan chức năng xác thực tin giả, tin sai sự thật.

-         Kịp thời phối hợp, trao đổi, cung cấp đầy đủ thông tin theo đề nghị của các đơn vị chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác để tổ chức các biện pháp phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;

-         Thiết lập đầu mối phối hợp 24/7 với cơ quan chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác để tiếp nhận yêu cầu gắn nhãn, công bố, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin sau khi được xác thực là tin giả, tin sai sự thật hoặc khóa tạm thời hoặc vĩnh viễn các tài khoản mạng xã hội, trang cộng đồng, kênh nội dung tin giả, tin sai sự thật hoặc ngăn chặn, gỡ bỏ các ứng dụng tin giả, tin sai sự thật thực hiện theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, Nghị định số 328/2026/NĐ-CP đã đặt ra khuôn khổ tương đối cụ thể cho việc nhận diện và phòng, chống tin giả, tin sai sự thật, từ việc xác định khái niệm, phân loại mức độ nguy hại đến quy định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng. Trong đó, phòng, chống tin giả không chỉ là trách nhiệm của cơ quan nhà nước hay các nền tảng trực tuyến mà còn đòi hỏi sự chủ động, trách nhiệm của mỗi người sử dụng thông tin. Kiểm chứng trước khi chia sẻ, không tiếp tay cho thông tin chưa được xác thực và kịp thời phản ánh tin giả, tin sai sự thật chính là những hành động thiết thực góp phần xây dựng môi trường thông tin an toàn, minh bạch và có trách nhiệm.

 



Công ty luật TNHH XTVN
Hotline: 0865766989
Công ty luật TNHH XTVN Chat FB với chúng tôi
Công ty luật TNHH XTVN