+84865766989
Tại Quyết
định số 399/QĐ-CA ngày 25/12/2025, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã chính thức
ban hành Quyết định về việc công bố 10 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thông qua. Các án lệ chính thức áp dụng trong xét xử kể từ
ngày 01/02/2026. Việc công bố án lệ tiếp tục khẳng định vai trò của án lệ trong
việc định hướng giải thích, áp dụng pháp luật, góp phần đảm bảo công bằng,
khách quan trong giải quyết các vụ việc tại Tòa án.
Hãy
cùng Công ty Luật TNHH XTVN tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây!
1. Án
lệ số 73/2025/AL về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố
tình thực hiện tội phạm đến cùng”
Tình
huống án lệ: Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công
vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại làm bị hại rơi xuống biển, sau đó bị cáo
đe dọa người khác không cho cứu giúp bị hại.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải áp dụng tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” đối với bị
cáo.
2. Án
lệ số 74/2025/AL về việc định tội danh “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi chiếm
đoạt tài sản của mình đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ.
Tình
huống án lệ: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của
bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi phạm
của cơ quan có thẩm quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Án
lệ số 75/2025/AL về thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản
Tình
huống án lệ: Chủ sở hữu tài sản không trông coi, quản
lý tài sản của mình và cũng không giao cho ai trông coi, quản lý tài sản.
Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối đưa ra các thông tin không đúng để người không được
giao trông coi, quản lý tài sản tin rằng bị cáo là người thân quen của chủ sở hữu
tài sản và giao tài sản này cho bị cáo. Bị cáo đã chiếm đoạt tài sản này.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
4. Án
lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước công cụ, phương
tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên.
Tình
huống án lệ: Bị cáo mua xe ô tô nhưng chưa làm thủ tục
sang tên theo quy định, người bán xác nhận đã bán xe ô tô cho bị cáo và
không tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Sau đó, bị cáo sử dụng xe ô
tô này làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định xe ô
tô là tài sản của bị cáo và tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Án
lệ số 77/2025/AL về việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh hiểm
nghèo của bên mua bảo hiểm.
Tình
huống án lệ: Trong đơn yêu cầu bảo hiểm, bên mua bảo hiểm
không cung cấp thông tin về tình trạng bệnh hiểm nghèo của mình, mặc dù biết rõ
mình có bệnh này và đã đi khám, chữa bệnh nhiều lần. Trong thời hạn hợp đồng bảo
hiểm, bên mua bảo hiểm chết do bệnh hiểm nghèo nêu trên.
Giải pháp pháp lý: Trường
hợp này, Tòa án phải xác định bên mua bảo hiểm đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin tình trạng bệnh hiểm nghèo khi giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
và doanh nghiệp bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm.
6. Án
lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
Tình
huống án lệ: Công ty đã thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã thể hiện
các thành viên góp vốn và số vốn điều lệ. Sau đó bên góp vốn và công ty có thỏa
thuận về việc góp vốn, chia lợi nhuận nhưng không thỏa thuận về việc tăng vốn
điều lệ của công ty. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không thể hiện việc
tăng vốn điều lệ.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định việc góp vốn nhằm mục đích
kinh doanh, không phải để tăng vốn điều lệ của công ty.
7. Án
lệ số 79/2025/AL về chủ thể giao kết hợp đồng đặt cọc và hiệu lực của hợp đồng
đặt cọc
Tình
huống án lệ 1: Các bên xác lập hợp đồng đặt cọc để bảo đảm
cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên. Bên đặt
cọc biết đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân
hàng nhưng vẫn xác lập hợp đồng đặt cọc.
Giải
pháp pháp lý 1: Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp
đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập và có hiệu lực.
Tình huống án lệ 2: Bên nhận đặt cọc không có quyền sở hữu đối với tài sản
chuyển nhượng, không có quyền thực hiện chuyển nhượng tài sản, nhưng được chủ sở
hữu tài sản ủy quyền giao kết hợp đồng đặt cọc. Bên đặt cọc biết nhưng không phản
đối.
Giải
pháp pháp lý 2: Trường hợp này, Tòa án phải xác định bên nhận
đặt cọc có quyền xác lập hợp đồng đặt cọc và hợp đồng đặt cọc có hiệu lực.
8. Án
lệ số 80/2025/AL về việc tặng cho vé số của vợ, chồng
Tình huống án lệ: Một
bên vợ, chồng tặng cho tài sản là tờ vé số chưa mở thưởng cho người khác, người
nhận vé số không biết hoặc không buộc phải biết vé số được tặng cho là tài sản
chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Sau đó, tờ vé số này trúng thưởng.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định tờ
vé số chưa mở thưởng được tặng cho là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
và việc tặng cho tài sản không cần sự đồng ý của người vợ hoặc chồng của người
tặng cho.
9. Án
lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
Tình
huống án lệ: Các bên giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ, sau đó thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Nguyên đơn (bên cung ứng dịch vụ) yêu
cầu bị đơn (bên sử dụng dịch vụ) trả tiền dịch vụ; bị đơn đồng ý sẽ trả tiền
nhưng chưa trả nên nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bị đơn trả tiền. Bị
đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, toà án phải xác định
tranh chấp giữa các bên là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản và không áp dụng
thời hiệu khởi kiện.
10.
Án lệ số 82/2025/AL về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết
hôn
Tình
huống án lệ: Vợ chồng có một bên là người nước ngoài,
hai bên đã có tờ khai đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới. Sau đó, một bên vợ/chồng
là người Việt Nam đứng tên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi vợ chồng đăng ký kết hôn.
Bên chuyển nhượng xác nhận đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng.
Giải
pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định quyền sử
dụng đất do một bên nhận chuyển nhượng là tài sản chung của vợ chồng.
Trên
đây là toàn bộ nội dung chia sẻ của chúng tôi, xin cảm ơn quý độc giả đã dành
thời gian theo dõi. Nếu có thắc mắc, vui lòng liên hệ với chúng tôi trực
tiếp tại Trụ sở Công ty TNHH XTVN địa chỉ Tầng 8, số 33 Thái Hà, phường Đống
Đa, thành phố Hà Nội hoặc qua website @www.xtlaw.com.vn.