+84865766989
Nội
dung vụ án:
Nhà đất có nguồn gốc là của vợ chồng cụ T
và cụ Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 mang tên cụ T, cụ
Đ. Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng HM, cụ T và cụ Đ lập di chúc chung
có nội dung cho cháu trai là anh Phạm Ngọc H (là cháu nội của hai cụ) có toàn
quyền sử dụng, sang tên khối tài sản nhà đất nêu trên của hai cụ. Sau khi cụ T
chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng QT, cụ Đ và anh H lập Văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có nội dung anh H được hưởng toàn bộ phần
di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích
nhà đất này và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang
tên cụ Đ, anh H. Trong
quá trình giải quyết vụ án, cụ Đ và anh H đều có nguyện vọng được nhận nhà đất
và thanh toán giá trị cho nhau.
Tòa án nhận định:
Diện tích nhà đất có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Đ, cụ T tạo lập và hai cụ sinh sống trên đất từ năm 1980; sau khi cụ T chết, cụ Đ vẫn quản lý, sử dụng, thờ cúng cụ T; năm 2016, anh H mới chuyển đến sinh sống cùng cụ Đ và không tạo lập được tài sản nào trên đất. Cụ Đ cho rằng, thực tế cụ và anh H không thể tiếp tục sống chung nhà nên có nguyện vọng được nhận nhà và thanh toán tiền cho anh H; các con của cụ Đ, cụ T là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị T2 đề nghị giao nhà đất cho cụ Đ để cụ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T cho đến khi cụ qua đời. Xét thấy cụ Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo lập chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho cụ Đ sở hữu, sử dụng và cụ Đ thanh toán cho anh H số tiền 1.390.198.415 đồng như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp với nguồn gốc và quá trình hình thành khối tài sản chung. Anh Phạm Ngọc H được hưởng giá trị 1/2 tài sản chung nói trên đủ để tạo lập chỗ ở mới.
ÁN LỆ SỐ 67/2023/AL VỀ
NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN HIỆN VẬT
KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG
Án lệ số 67/2023/AL về người được nhận hiện
vật khi chia tài sản chung được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thông qua ngày 01/10/2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày
01/10/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án
lệ:
Quyết định giám
đốc
thẩm số 40/2021/DS-GĐT ngày 23/6/2021 của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị Đ với bị đơn là anh Phạm Ngọc H; người có quyền
lợi, nghĩa
vụ
liên quan gồm 06 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 4 phần “Nhận định của
Toà
án”.
Khái quát
nội dung của án lệ:
- Tình
huống án
lệ:
Trong vụ án chia tài sản chung là quyền sở hữu nhà
và quyền sử
dụng đất,
một bên là người cao tuổi đã tạo lập, quản lý và sử dụng nhà đất ổn định, lâu dài,
có nguyện vọng nhận nhà đất và thanh toán giá
trị
cho người còn lại.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải quyết định giao nhà đất cho người cao tuổi
và người cao tuổi phải thanh toán giá trị cho người còn lại.
Quy định của pháp luật
có
liên quan đến án lệ:
Điều 209, 212 và
Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ khoá của án
lệ:“Người cao tuổi”; “Chia tài sản chung”; “Thanh toán giá trị”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn cụ Nguyễn Thị Đ (bà Phạm Thị Hải Y đại diện theo ủy quyền) trình bày: Vợ chồng cụ Phạm Ngọc T (chết năm 2014), cụ Nguyễn Thị Đ sinh được
05
người con chung là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị T2, ông Phạm Ngọc T3 (chết năm 2005). Ông T3 có con trai là
anh
Phạm
Ngọc H. Cụ Đ và cụ T tạo lập được thửa đất số 57-2, tờ bản đồ số 34, diện tích 62,68m2 sử dụng riêng và 21,3m2 sử dụng chung, tọa lạc tại tổ 1, xóm B, thị trấn V, huyện
X,
thành phố Hà Nội, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 mang tên cụ Phạm Ngọc T, cụ Nguyễn Thị Đ; trên đất có ngôi nhà hai tầng.
Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng HM, cụ T và cụ Đ lập di chúc
chung với nội dung cho cháu trai là anh Phạm Ngọc H (con của ông Phạm Ngọc T3) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản là nhà đất nêu trên của hai cụ.
Sau khi cụ T chết, ngày
26/10/2019, tại Văn phòng công chứng QT, cụ Đ và anh H lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế với nội dung anh Phạm
Ngọc H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ
và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất. Ngày 14/11/2019, cụ Đ và anh H được
Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy
chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m2 đất (trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng
và 21,3m2 ngõ đi chung), thửa số 57-2, tờ
bản
đồ
số 33, mang tên cụ Đ, anh H.
Cụ Đ khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung giữa cụ Đ với anh H; đề nghị được sử
dụng
nhà đất
và thanh toán
giá
trị tài sản
cho anh H số
tiền là 1.400.000.000 đồng. Nếu anh H không đồng ý thì đề
nghị Tòa án giải
quyết theo giá của
Hội đồng định giá
đã xác
định là 40.000.000 đồng/m2 đất.
Bị đơn anh Phạm
Ngọc H trình bày: Cụ Đ và gia đình anh hiện đang cùng
sinh sống tại nhà đất này. Anh xác định, thửa đất không thể chia đôi theo hiện vật,
anh có nguyện vọng
được nhận nhà đất và thanh toán cho cụ Đ số tiền
1.500.000.000 đồng. Nếu cụ Đ muốn nhận nhà đất thì phải thanh toán cho anh với
giá
75.000.000 đồng/m2 tương đương 2.325.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị
Hải
Y, bà Phạm Thị T1, bà
Phạm Thị T2 thống nhất trình bày: Các bà
không còn liên quan gì đến tài sản tranh chấp, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho cụ Đ có chỗ ở,
có nơi thờ
cúng cụ T. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020, Tòa án nhân
dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà
Nội quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Đ đối với anh Phạm Ngọc H.
Xác
định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H là quyền
sử
dụng đất và
tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa
chỉ tại tổ
1,
khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội có tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu 1/2 tài sản chung trị giá là 1.390.198.415 đồng.
Chia tài sản chung của cụ Đ và anh H như sau: Giao cho cụ Đ được sở hữu,
sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm
B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội (có sơ đồ hiện trạng nhà đất kèm theo bản án). Cụ
Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh H 1/2 tài sản chung có trị giá
là 1.390.198.415 đồng.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Phạm Ngọc H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm. Quá trình giải quyết phúc thẩm, anh H
vẫn đề nghị được nhận nhà đất và
có nguyện vọng để
cụ
Đ ở cùng gia đình anh cho đến khi cụ qua
đời. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội quyết định:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Ngọc
H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020 của
Tòa
án nhân dân huyện Thanh Trì, cụ thể như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Đ đối với anh Phạm Ngọc H.
2. Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ
tại
tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội, diện tích 84m2, trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng và 21,3m2 ngõ đi chung, tổng trị giá là 2.780.396.830
đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu, sử
dụng 1/2 tài sản chung có
trị
giá 1.390.198.415 đồng.
3. Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H cụ thể như sau:
Anh Phạm Ngọc H được
sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa
số
57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 939809 ngày 14/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà
Nội cấp mang tên cụ Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Ngọc
H). Anh Phạm Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Nguyễn Thị Đ 1/2 tài sản chung có giá trị là 1.390.198.415 đồng.
Anh Phạm
Ngọc H có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh (hoặc đổi, cấp) Giấy chứng nhận quyền
sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản
được
chia nêu trên theo quy định của pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Ngọc H và chị Nguyễn Thị Thanh
Trà
tiếp tục để cụ Nguyễn Thị Đ sử dụng nhà tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội trên cho đến khi qua đời.
Ngoài ra, cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm do chậm thi
hành án.
Tại Quyết định kháng nghị giám
đốc
thẩm số 10/QĐKNGĐT-VKS-DS
ngày
01/02/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã
kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; đề
nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa
án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày
22/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà
Nội.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận
kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA
ÁN:
[1] Nhà đất thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, tại tổ 1, khu xóm
B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Phạm Ngọc T, cụ Nguyễn Thị Đ, được Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 2005 diện tích 62,68m2 sử dụng riêng và 21,3m2 sử dụng chung mang tên cụ
T,
cụ Đ.
[2] Ngày 12/3/2012,
tại
Văn phòng công
chứng HM,
cụ T
và cụ Đ lập di
chúc chung có nội dung cho cháu trai là anh Phạm Ngọc H (là cháu nội của hai cụ) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản nhà đất nêu trên của
hai
cụ. Sau khi cụ T chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng QT, cụ Đ và anh H
lập
Văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế có nội dung anh H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử
dụng diện tích nhà đất này và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà
Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m2, trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng (đo thực tế là
66,6m2) và 21,3m2 ngõ đi chung (đo thực tế là 22,2m2), thửa số 57-2, tờ bản đồ
số
33 mang tên cụ Đ, anh H.
[3] Theo Biên bản xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 14/5/2020, thửa đất
số
57-2 phần diện tích đất sử dụng riêng có kích thước
chiều rộng phía
giáp ngõ đi chung là 3,56m; chiều rộng phía sau là 3,67m; trên đất có ngôi nhà 2,5 tầng và nhà cấp 4. Theo Văn bản số 1101/UBND-TTPTQĐ ngày 03/6/2020, Ủy ban nhân
dân huyện Thanh Trì
xác
định, thửa số
57-2 bị thu hồi diện
tích là 11,2m2, diện
tích sử dụng còn lại là
55,0m2.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ Đ và anh H đều có nguyện vọng
được nhận nhà đất và thanh toán giá trị cho nhau. Tuy nhiên, diện tích nhà
đất
có nguồn gốc là
của vợ
chồng cụ Đ, cụ T tạo lập và hai cụ sinh sống trên đất từ năm
1980; sau khi cụ T chết, cụ Đ vẫn quản lý, sử dụng, thờ cúng cụ T; năm 2016, anh
H mới chuyển đến sinh sống cùng cụ Đ và không tạo lập được
tài
sản nào trên
đất. Cụ Đ cho rằng, thực tế cụ và anh H không thể tiếp tục sống chung nhà nên có
nguyện vọng được nhận nhà và thanh toán tiền cho anh H; các con của cụ Đ, cụ
T là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm
Thị T1, bà Phạm
Thị T2 đề nghị giao nhà đất cho cụ Đ
để
cụ có chỗ ở,
có nơi thờ cúng
cụ T
cho đến khi cụ qua đời. Xét thấy cụ Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo
lập
chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho cụ Đ sở hữu, sử dụng và cụ Đ thanh toán cho anh H số tiền 1.390.198.415 đồng như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là
phù hợp với nguồn gốc và quá trình hình thành khối tài sản chung. Anh Phạm
Ngọc
H được hưởng giá trị 1/2 tài sản chung nói trên đủ để tạo lập chỗ ở
mới.
[5] Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng nghị theo hướng sửa bản
án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT
ngày
24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Vì
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1
Điều 337, Điều 342, khoản 5
Điều 343 Bộ luật
Tố
tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát
nhân dân
cấp cao tại Hà Nội. Sửa toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT
ngày
24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị Đ với bị đơn là
anh Phạm Ngọc H, cụ thể
như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Đ đối với anh Phạm Ngọc H.
2. Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ
tại
tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội, diện tích 84m2, trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng và 21,3m2 ngõ đi chung, tổng trị giá là 2.780.396.830
đồng. Cụ Đ
và
anh H mỗi người có quyền
sở
hữu, sử dụng
1/2
tài
sản chung trị
giá
1.390.198.415 đồng.
3. Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm
Ngọc H, cụ thể
như
sau:
Cụ Nguyễn Thị Đ
được sở hữu, sử
dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 939809 ngày 14/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà
Nội cấp mang tên cụ Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Ngọc
H).
Cụ Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh Phạm Ngọc H 1/2 tài sản
chung trị giá là 1.390.198.415 đồng (Một tỷ, ba trăm
chín mươi triệu, một trăm chín mươi tám nghìn, bốn trăm mười lăm đồng).
Cụ Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có
thẩm
quyền để làm thủ tục điều chỉnh (hoặc đổi, cấp)
Giấy
chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được
chia
nêu
trên theo quy định của
pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy
định
tại
Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Án phí: Cụ Nguyễn Thị Đ
được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Anh Phạm Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 53.700.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bảy trăm nghìn đồng), được
trừ
vào số tiền tạm ứng án
phí
anh H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
theo Biên lai thu số 06808 ngày 05/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, còn phải nộp số tiền là 53.400.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm
nghìn đồng).
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra
quyết định.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ Đ và anh H đều có nguyện vọng
được
nhận nhà đất và thanh toán giá trị cho nhau. Tuy nhiên, diện tích nhà đất
có nguồn gốc
là
của vợ chồng cụ Đ, cụ T
tạo lập và hai cụ sinh sống trên đất từ
năm
1980; sau khi cụ T chết, cụ Đ vẫn quản lý, sử dụng, thờ cúng cụ T; năm 2016, anh H
mới
chuyển đến sinh sống cùng cụ
Đ và không tạo lập được tài sản nào trên đất. Cụ Đ cho rằng,
thực tế cụ và anh H không thể tiếp tục sống chung nhà nên có nguyện vọng được nhận nhà và thanh toán tiền cho anh H; các con của cụ Đ, cụ T là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm
Thị
T2 đề nghị giao nhà đất cho cụ Đ
để
cụ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T cho
đến khi cụ qua đời. Xét thấy cụ Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo lập chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho cụ Đ
sở
hữu, sử dụng và cụ Đ thanh toán cho anh H số tiền 1.390.198.415 đồng như quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm là phù hợp với nguồn
gốc
và quá trình hình thành khối tài sản chung.
Anh Phạm Ngọc H
được
hưởng giá trị 1/2 tài sản chung nói trên đủ để tạo lập chỗ ở mới.”
