Công ty luật TNHH XTVN
Gọi Ngay
+84865766989
Chúng tôi luôn làm việc tận tâm trong mọi  Cuộc gọi ngay bây giờ
Hỏi đáp ÁN LỆ SỐ 82/2025/AL VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG  TRƯỚC KHI ĐĂNG KÝ KẾT HÔN (Áp dụng từ 01/02/2026)


Nội dung vụ án:

Ông E là người nước ngoài, kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc C là người Việt Nam ngày 06/08/2013 tại UBND tỉnh Bình Định. Ngày 02/11/2016, ông E xin ly hôn bà C; Về con chung, nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung gồm có:

-  Các thiết bị máy móc, vật dụng điện tử ông đã mua trước và trong thời kỳ hôn nhân gồm: Tủ lạnh, tivi, máy giặt, lò vi sóng, máy nén khí có tổng trị giá gần 50.000.000 đồng. Ông yêu cầu chia các tài sản trên nhưng sau đó ông tự nguyện rút yêu cầu này.

-  Diện tích 1.288m2 tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Ngày 05/10/2013 vợ chồng ông E đã ký hợp đồng mua bán viết tay với ông P, bà P1 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng 1.288m2 với giá 600.000.000 đồng. Tuy nhiên chỉ có 589,8m2 có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ngày 08/10/2013, vợ chồng ông E và vợ chồng ông P đến Văn phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng 589,8m2 và trả trước số tiền 322.000.000 đồng (Hợp đồng 1), diện tích còn lại khi nào được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm thủ tục chuyển nhượng sau. Ngày 08/04/2014, vợ chồng ông và vợ chồng ông P đến Văn phòng công chứng S để làm hợp đồng chuyển nhượng diện tích 590,7m2 đất (Hợp đồng 2), vợ chồng ông đã giao đủ tiền chuyển nhượng. Tuy nhiên bà C đã hai lần lừa dối với lý do ông E là người nước ngoài không thể đứng tên trên hợp đồng nên để bà C đứng tên. Tuy nhiên bà C lại để cho ông Nguyễn Kim D, bà Nguyễn Thị Ngọc B (là anh, chị của bà C) đứng tên trên hợp đồng với tư cách người mua đất. Hợp đồng 1 người nhận chuyển nhượng là bà C và bà B; Hợp đồng 2 người nhận chuyển nhượng là ông D.

-  Diện tích 600m2 đất tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận vợ chồng ông E nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị N với giá 280.000.000 đồng theo Giấy thỏa thuận mua bán đất ngày 09/07/2013; Các bên lập thành 02 hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/07/2013 và ngày 26/09/2014 với giá lần lượt là 100.000.000 đồng (Hợp đồng 3), 130.000.000 đồng (Hợp đồng 4); Cả hai hợp đồng này bên nhận chuyển nhượng là một mình bà C.

Tòa án nhận định:

-  Đối với Hợp đồng 1,2,4, mặc dù ông E không có tên trên các Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng nhưng các bên chuyển nhượng đều xác định bán cho vợ chồng ông E. Bên cạnh đó, các hợp đồng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, bà C không chứng minh được là tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xác định các tài sản trên là tài sản chung của vợ chồng ông E.

Đối với Hợp đồng 3, mặc dù hợp đồng được ký ngày 09/07/2013 trước khi ông E và bà C đăng ký kết hôn (06/08/2013) nhưng ngày 16/04/2013 hai ông bà đã có tờ khai đăng ký kết hôn và đã tổ chức lễ cưới vào tháng 7/2013 do đó xác định tài sản nhận chuyển nhượng tại Hợp đồng 3 là tài sản chung 














Công ty luật TNHH XTVN
Hotline: 0865766989
Công ty luật TNHH XTVN Chat FB với chúng tôi
Công ty luật TNHH XTVN