+84865766989
Nội dung vụ án:
Ông E là người nước ngoài, kết hôn
với bà Nguyễn Thị Ngọc C là người Việt Nam ngày 06/08/2013 tại UBND tỉnh Bình Định.
Ngày 02/11/2016, ông E xin ly hôn bà C; Về con chung, nợ chung không có và
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung gồm có:
- Các
thiết bị máy móc, vật dụng điện tử ông đã mua trước và trong thời kỳ hôn nhân gồm:
Tủ lạnh, tivi, máy giặt, lò vi sóng, máy nén khí có tổng trị giá gần 50.000.000
đồng. Ông yêu cầu chia các tài sản trên nhưng sau đó ông tự nguyện rút yêu cầu
này.
- Diện
tích 1.288m2 tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Ngày 05/10/2013 vợ chồng
ông E đã ký hợp đồng mua bán viết tay với ông P, bà P1 về việc chuyển nhượng quyền
sử dụng 1.288m2 với giá 600.000.000 đồng. Tuy nhiên chỉ có 589,8m2 có Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nên ngày 08/10/2013, vợ chồng ông E và vợ chồng ông P đến
Văn phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng 589,8m2 và trả trước số tiền
322.000.000 đồng (Hợp đồng 1), diện tích còn lại khi nào được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm thủ tục chuyển nhượng sau. Ngày
08/04/2014, vợ chồng ông và vợ chồng ông P đến Văn phòng công chứng S để làm hợp
đồng chuyển nhượng diện tích 590,7m2 đất (Hợp đồng 2), vợ chồng ông đã
giao đủ tiền chuyển nhượng. Tuy nhiên bà C đã hai lần lừa dối với lý do ông E
là người nước ngoài không thể đứng tên trên hợp đồng nên để bà C đứng tên. Tuy
nhiên bà C lại để cho ông Nguyễn Kim D, bà Nguyễn Thị Ngọc B (là anh, chị của
bà C) đứng tên trên hợp đồng với tư cách người mua đất. Hợp đồng 1 người nhận
chuyển nhượng là bà C và bà B; Hợp đồng 2 người nhận chuyển nhượng là ông D.
- Diện
tích 600m2 đất tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận vợ chồng ông E nhận
chuyển nhượng của bà Trần Thị N với giá 280.000.000 đồng theo Giấy thỏa thuận
mua bán đất ngày 09/07/2013; Các bên lập thành 02 hợp đồng chuyển nhượng ngày
09/07/2013 và ngày 26/09/2014 với giá lần lượt là 100.000.000 đồng (Hợp đồng
3), 130.000.000 đồng (Hợp đồng 4); Cả hai hợp đồng này bên nhận chuyển
nhượng là một mình bà C.
Tòa án nhận định:
- Đối
với Hợp đồng 1,2,4, mặc dù ông E không có tên trên các Hợp đồng chuyển nhượng
có công chứng nhưng các bên chuyển nhượng đều xác định bán cho vợ chồng ông E.
Bên cạnh đó, các hợp đồng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, bà C không chứng
minh được là tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xác định các tài sản trên là tài
sản chung của vợ chồng ông E.











