+84865766989
Trước diễn biến phức tạp của tệ nạn ma túy, việc ban hành Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 và Chính phủ ban hành Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy là một đòi hỏi cấp thiết (Sau đây gọi là Nghị định 163/2026/NĐ-CP), cả hai văn bàn này sẽ cùng có hiệu lực vào ngày 01/07/2026. Điểm mới đột phá và đáng chú ý nhất của khung pháp lý này là việc bổ sung biện pháp quản lý, giám sát bằng thiết bị điện tử đối với người đang cai nghiện và quản lý sau cai nghiện bằng thiết thị điện tử, đây được xem là bước đi quan trọng giúp lấp đầy lỗ hổng quản lý, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn tái nghiện, tái phạm và bảo đảm vững chắc trật tự an toàn xã hội. Quy định này cụ thể ra sao và sẽ được áp dụng như thế nào? Kính mời Quý độc giả cùng tìm hiểu chi tiết trong bài viết sau đây của Công ty Luật TNHH XTVN.
1. Thiết bị giám
sát điện tử là gì?
Theo Điều 14
Nghị định 163/2026/NĐ-CP, Thiết bị giám sát điện tử là thiết bị giám sát định vị
viễn thông đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được đeo trên cơ thể để xác
định vị trí của người bị giám sát, do Bộ Công an trang cấp.
2. Đối tượng và thời hạn áp dụng
Điều 12 Luật Phòng, chống ma túy 2025 và Điều 15 Nghị định 163/2026/NĐ-CP phân loại rõ đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp này như sau:

Khi đã bị áp dụng biện pháp này, người bị
giám sát không có quyền từ chối. Khoản 3 Điều 12 Luật Phòng, chống ma túy 2025
ràng buộc họ bằng ba nghĩa vụ mang tính cưỡng chế cao: Phải chấp hành tuyệt đối
quyết định; cấm mọi hành vi tự ý tháo gỡ, phá hủy hay can thiệp làm nhiễu hoạt
động của thiết bị; Bắt buộc phải báo ngay cho Công an cấp xã nếu thiết bị hỏng.
Bất kỳ hành vi cố tình vô hiệu hóa thiết bị nào cũng sẽ bị coi là vi phạm pháp
luật, qua đó triệt tiêu tâm lý chống đối của người bị giám sát.
3. Thẩm quyền và thời hạn ra quyết định
Căn cứ Điều
16 Nghị định 163/2026/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã là người có thẩm quyền ra
quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.
Thời hạn ra
quyết định được quy định cụ thể:
-
Trong
vòng 12 giờ: Kể từ khi có quyết định cai nghiện tự nguyện, nhận thông báo tiếp
nhận điều trị bằng thuốc thay thế, hoặc nhận quyết định quản lý sau cai (áp dụng
cho người từ đủ 18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi quản lý sau cai không có
nơi cư trú ổn định).
-
Trong
vòng 24 giờ: Kể từ khi nhận được văn bản đề nghị từ cha mẹ/người đại diện hợp
pháp (đối với người từ 12 đến dưới 18 tuổi) hoặc khi có tài liệu về hành vi vi
phạm.
4. Quy trình thi hành quyết định.
Căn cứ Điều
17 Nghị định 163/2026/NĐ-CP, việc thi hành quyết định được thực hiện chặt chẽ
theo các bước:
-
Lắp
đặt thiết bị: Trong vòng 24 giờ kể từ khi quyết định có hiệu lực, cán bộ Công
an cấp xã phải trực tiếp đeo thiết bị lên cơ thể người bị giám sát và lập biên
bản (Mẫu số 03).
-
Thông
báo và cam kết: Cán bộ thi hành phải phổ biến quy định cho người bị giám sát
(cùng cha mẹ/người giám hộ nếu dưới 18 tuổi) và yêu cầu ký cam kết tuân thủ (Mẫu
số 04).
-
Gửi
quyết định: Quyết định phải được gửi cho người bị giám sát, gia đình/người giám
hộ, cán bộ thực hiện giám sát và người tổ chức thi hành.
-
Quy
trình đặc thù tại cơ sở cai nghiện/trường giáo dưỡng: Người hoàn thành cai nghiện
tại các cơ sở này sẽ được đeo thiết bị ngay tại cơ sở trước khi ra về. Việc này
do Công an cấp xã hoặc cơ sở cai nghiện/trường giáo dưỡng phối hợp thực hiện
theo đề nghị của Trưởng Công an cấp xã nơi ra quyết định, đảm bảo việc giám sát
không bị gián đoạn.
Mọi vấn đề cần tư vấn cụ thể hoặc hỗ trợ
thực hiện các thủ tục liên quan, Quý độc giả có thể liên hệ đến Công ty Luật
TNHH XTVN để được tư vấn đảm bảo quá trình thực hiện đúng pháp luật và hiệu quả.
