+84865766989
Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng được sử dụng phổ
biến, việc cung cấp, chia sẻ thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng
cũng diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp. Nhằm tăng cường công tác quản lý và xử
lý đối với các hành vi vi phạm, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP đã được ban hành và
có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 với những quy định mới về xử phạt vi phạm hành
chính liên quan đến hoạt động chia sẻ thông tin trên mạng xã hội.
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm
hành chính đối với hành vi vi phạm về chia sẻ thông tin trên mạng xã hội
Căn cứ theo khoản 5 Điều 4 Nghị định 174/2026/NĐ-CP,
thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối vơi hành vi vi phạm khi chia sẻ thông
tin trên mạng xã hội là 01 năm.
Ngoài ra, căn cứ theo khoản 7 Điều 4 Nghị định
174/2026/NĐ-CP, đối với các hành vi vi phạm được phát hiện thông qua phương tiện,
thiết bị nghiệp vụ, thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm được tính từ thời điểm
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ ghi nhận hành vi vi phạm.
2. Mức xử phạt vi phạm hành
chính đối với hành vi vi phạm về chia sẻ thông tin trên mạng xã hội từ ngày
01/07/2026
Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 95 Nghị định
174/2026/NĐ-CP, hành vi vi phạm khi chia sẻ thông tin trên mạng xã hội bị xử phạt
như sau:
-
Phạt
tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội
để thực hiện một trong các hành vi sau:
+
Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin
sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự,
nhân phẩm của cá nhân;
+
Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy cho tệ nạn xã
hội, mại dâm, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; phá hoại thuần
phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng mà chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự;
+
Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động
chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
+
Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học,
nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí
tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch
thu;
+
Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về
hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
+
Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng
không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;
+
Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng
có nội dung bị cấm;
+
Lợi dụng mạng xã hội để sản xuất nội dung dưới
hình thức phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí;
+
Các cơ quan báo chí không thực hiện thông báo
khi thiết lập tài khoản, trang cộng đồng, kênh nội dung, nhóm cộng đồng trên mạng
xã hội trong và ngoài nước theo quy định;
+
Chủ tài khoản, chủ kênh nội dung, chủ trang cộng
đồng, người quản trị nhóm cộng đồng trên mạng xã hội không thực hiện ngăn chặn,
gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân khác, thông tin ảnh hưởng đến trẻ em đăng tải trên
tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung của mình khi có
yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
-
Phạt
tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
+
Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử,
phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm
tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự;
+
Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước,
bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự;
+
Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây
hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây
khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 174/2026/NĐ-CP,
mức phạt tiền nêu trên được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ
chức. Đối với hành vi vi phạm của cá nhân, mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền
đối với tổ chức.
Ngoài hình thức phạt tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm
còn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 3 Điều
95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:
-
Buộc
gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật
do thực hiện hành vi vi phạm;
-
Buộc
khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung do thực hiện
hành vi vi phạm.
Đồng thời, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi
phạm về chia sẻ thông tin trên mạng xã hội còn bị áp dụng một hoặc nhiều hình
thức xử phạt bổ sung theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 174/2026/NĐ-CP như sau:
-
Tước
quyền sử dụng giấy phép có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng đối với Giấy phép
bưu chính; Giấy phép viễn thông bao gồm Giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông
và Giấy phép nghiệp vụ viễn thông; Giấy phép lắp đặt cáp viễn thông trên biển;
Giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện; Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội;
Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1 trên mạng, Giấy phép kinh doanh
dịch vụ tin cậy; Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự;
-
Tịch
thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn
thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin;
-
Đình
chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng;
-
Trục
xuất.
Trên đây là những quy định cơ bản về xử phạt vi phạm
hành chính đối với hành vi vi phạm khi chia sẻ thông tin trên mạng xã hội được
áp dụng từ ngày 01/07/2026, bao gồm thời hiệu xử phạt, mức xử phạt đối với từng
hành vi vi phạm, các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.
Việc nắm rõ các quy định này góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật khi sử
dụng mạng xã hội và hạn chế các rủi ro pháp lý có thể phát sinh.
