+84865766989
Ngày
28/04/2026, Tòa
án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 250/TANDTC - PC về việc thông
báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Trong
đó đối với lĩnh vực hình sự đáng chú ý là việc áp dụng quy định chuyển hình phạt tử hình sang tù chung thân đối với
một số trường hợp phạm tội về ma túy hay quan hệ với người dưới 16 tuổi qua nhiều giai
đoạn tuổi và cùng một số khó khăn vướng mắc khác được nêu tại Công văn trên.
Hãy cùng Công ty Luật TNHH XTVN tìm hiểu
một số nội dung đáng chú ý tại Công văn 250/TANDTC-PC thông qua bài viết dưới đây!
1. Về
hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và tư pháp người chưa thành niên
1.1. Người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình (trước ngày 01/7/2025) về Tội
sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma
túy (Điều 251) với khối lượng ma túy rất lớn nhưng họ không phải là chủ mưu, cầm
đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên
thì họ có được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân không?
Theo quy định
tại điểm b khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) thì hình phạt tử hình đã tuyên
trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm tội về Tội sản xuất trái phép chất ma
túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) mà chưa thi
hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu khối lượng,
thể tích chất ma túy được xác định trong Bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma
túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật
Hình sự mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc
không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
Do đó, trường
hợp này, nếu Bản án không xác định người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu hoặc
chỉ huy hoặc không xác định họ có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở
lên theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Tòa án xem xét, quyết định
chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ
thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong Bản án.
1.2. Nguyễn Văn A đủ 18 tuổi, nhiều lần thực hiện hành vi quan hệ
tình dục đều có sự đồng ý của Nguyễn Thị B. Trong đó có lần quan hệ tình dục
khi B chưa đủ 13 tuổi và có lần quan hệ tình dục khi B đã đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi. Vậy A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
theo quy định tại Điều 142 của Bộ luật Hình sự hay Tội giao cấu hoặc thực hiện
hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy
định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả
02 tội trên?
Đối với hành
vi quan hệ tình dục khi B chưa đủ 13 tuổi thì cấu thành Tội hiếp dâm người dưới
16 tuổi theo quy định tại Điều 142 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành
vi quan hệ tình dục khi B từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì cấu thành Tội giao
cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, trường
hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
theo quy định tại Điều 142 của Bộ luật Hình sự và Tội giao cấu hoặc thực hiện
hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy
định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy
nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc căn cứ quy định tại Điều 50 của Bộ
luật Hình sự, Tòa án cần cân nhắc đến hoàn cảnh gia đình, môi trường sống,
phong tục, tập quán và tình hình thực tiễn tại địa phương để xem xét, quyết định
cho phù hợp.
1.3. Nguyễn Văn A đưa bạn gái là Nguyễn Thị B (B 15 tuổi) về phòng
trọ của A. Tại phòng trọ, trong một khoảng thời gian, A đã thực hiện hành
vi giao cấu với B 02 lần. Trường hợp này, A có bị áp dụng tình tiết “phạm
tội 02 lần trở lên” không?
Theo hướng dẫn tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định
tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự thì “phạm tội 02 lần trở
lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường
hợp người phạm tội đã thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với một tội
phạm mà mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa có lần
nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự. Do vậy, trường hợp này, nếu mỗi lần thực hiện hành vi giao cấu của A
đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì A bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02
lần trở lên”.
2. Về lĩnh vực dân sự.
Đối với những nội dung liên quan
tranh chấp hợp đồng vay tài sản, xác định yêu cầu phản tố và nghĩa vụ hoàn trả
tài sản vay cũng được hướng dẫn cụ thể. Theo đó, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
là vàng, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án buộc bên vay hoàn trả đúng số
lượng vàng đã vay, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp Bản án tuyên nghĩa vụ trả bằng vàng thì không áp dụng
lãi chậm thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận.
3. Về lĩnh vực hành chính
Trong lĩnh vực hành chính, Tòa án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc liên
quan việc xác định đối tượng khởi kiện đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp. Theo đó, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không phải là
quyết định hành chính nên không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Khi
phát sinh tranh chấp, Tòa án cần xác định đúng đối tượng khởi kiện là khiếu kiện
hành vi hành chính của cơ quan đăng ký kinh doanh trong quá trình cấp giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp.
Việc ban hành Công văn số 250/TANDTC-PC góp phần
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn xét xử, đồng thời
bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn hệ thống Tòa án.
Trên đây là toàn bộ nội dung chia sẻ của chúng tôi, xin cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian theo dõi. Nếu có thắc mắc, vui lòng liên hệ với chúng tôi trực tiếp tại Trụ sở Công ty Luật TNHH XTVN địa chỉ: Văn phòng tầng 5, số 171 phố Hoàng Cầu, phường Đống Đa, thành phố Hà Nội hoặc qua website @www.xtlaw.com.vn.
