+84865766989
Từ ngày 01/01/2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, tạo lập khung pháp lý toàn diện cho việc thu thập, xử lý và bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam. Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh, việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro mà còn góp phần nâng cao uy tín và niềm tin trên thị trường.
Hãy cùng XTVN tìm hiểu chi tiết các nghĩa vụ trọng tâm mà doanh nghiệp cần thực hiện để bảo đảm tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân từ năm 2026.
1.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc bảo vệ dữ liệu cá
nhân
1.1.
Thu thập và xử lý dữ liệu phải có sự đồng ý hợp pháp
Doanh
nghiệp chỉ được thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi có sự đồng ý tự nguyện, rõ
ràng của chủ thể dữ liệu cá nhân theo Điều 9 và Điều 11 Luật Bảo vệ dữ liệu cá
nhân.
Tuy
nhiên, theo Điều 19 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, một số trường hợp đặc biệt vẫn
được phép xử lý dữ liệu mà không cần sự đồng ý, như để bảo vệ tính mạng, sức khỏe
hoặc quyền, lợi ích hợp pháp trong tình huống cấp bách;…
1.2.
Bảo đảm quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân
Doanh
nghiệp phải đảm bảo các quyền quan trọng của chủ thể dữ liệu cá nhân theo Điều
4 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, bao gồm:
-
Quyền
được biết về hoạt động xử lý dữ liệu;
-
Quyền
đồng ý và rút lại sự đồng ý;
-
Quyền
truy cập, chỉnh sửa, xóa dữ liệu;
-
Quyền
khiếu nại, tố cáo, khởi kiện;
-
Quyền
yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều
này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng cơ chế tiếp nhận và xử lý yêu cầu của
người dùng một cách minh bạch và hiệu quả.
1.3.
Bảo mật và thời hạn lưu trữ dữ liệu cá nhân
Doanh nghiệp phải
áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật để bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhằm ngăn
ngừa rò rỉ, mất mát và truy cập trái phép; đồng thời thường xuyên rà soát, cập
nhật các biện pháp này theo điểm c khoản 1 Điều 37 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Dữ liệu cá nhân chỉ
được lưu trữ trong thời gian cần thiết cho mục đích xử lý hoặc theo quy định
pháp luật; việc lưu trữ vượt quá thời hạn hợp lý có thể bị xem là vi phạm theo
khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
1.4.
Đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân
Theo Điều 21 và Điều
22 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp với vai trò là bên kiểm soát hoặc
bên xử lý dữ liệu cá nhân phải lập và lưu trữ hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ
liệu cá nhân, đồng thời gửi cơ quan chuyên trách trong vòng 60 ngày kể từ khi bắt
đầu xử lý dữ liệu. Hồ sơ này cần được cập nhật định kỳ 06 tháng hoặc khi có
thay đổi quan trọng liên quan đến cơ cấu tổ chức hay hoạt động xử lý dữ liệu.
1.5.
Bố trí nhân sự hoặc bộ phận chuyên trách
Về việc phụ trách
bảo vệ dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp phải chỉ định bằng văn bản bộ phận hoặc
nhân sự phụ trách, hoặc thuê đơn vị có đủ điều kiện thực hiện công việc này. Việc
chỉ định cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm theo Điều 33 Luật Bảo
vệ dữ liệu cá nhân và khoản 1 Điều 13 Nghị định 256/2025/NĐ-CP.
Nhân sự phụ trách
phải đáp ứng các yêu cầu về năng lực căn cứ theo khoản 2 Điều 13 Nghị định
256/2025/NĐ-CP, bao gồm:
-
Có
trình độ từ cao đẳng trở lên;
-
Có
tối thiểu 02 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan;
-
Đã
được đào tạo kỹ năng chuyên môn trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân.
1.6.
Xóa, hủy hoặc khử nhận dạng dữ liệu đúng quy định
Theo Điều 14 Luật
Bảo vệ dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp phải xóa, hủy dữ liệu khi có yêu cầu của
chủ thể dữ liệu (trừ trường hợp có lý do chính đáng, phải thông báo cho chủ thể
dữ liệu biết), khi đã hoàn thành mục đích xử lý hoặc hết thời hạn lưu trữ. Việc
khử nhận dạng dữ liệu phải được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm an toàn thông tin
và không được tái nhận dạng dữ liệu sau khi đã thực hiện.
1.7.
Thông báo vi phạm dữ liệu
Trong trường hợp
phát hiện hành vi vi phạm dữ liệu cá nhân có nguy cơ gây hại đến an ninh quốc
gia, trật tự xã hội hoặc quyền lợi của chủ thể dữ liệu, doanh nghiệp phải thông
báo cho cơ quan chuyên trách trong vòng 72 giờ, đồng thời lập biên bản và phối
hợp xử lý theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
2.
Một số lưu ý cho doanh nghiệp
Theo khoản 2 Điều
38 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp được
quyền lựa chọn thực hiện hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ đánh giá tác động và tổ
chức lực lượng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thời hạn 05 năm kể từ ngày
01/01/2026, trừ trường hợp kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu, xử lý dữ liệu nhạy
cảm hoặc xử lý dữ liệu với quy mô từ 100.000 chủ thể trở lên.
Đối với doanh nghiệp
siêu nhỏ, pháp luật cho phép không phải thực hiện các nghĩa vụ này, trừ các trường
hợp tương tự nêu trên đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ căn cứ theo
khoản 3 Điều 38 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Luật
Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 đặt ra những yêu cầu chặt chẽ hơn đối với hoạt động
quản trị dữ liệu của doanh nghiệp. Việc tuân thủ không chỉ giúp doanh nghiệp
tránh rủi ro pháp lý mà còn nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh trong môi
trường kinh doanh số.