+84865766989
Với sự ra đời của
Nghị định 58/2026/NĐ-CP, quy trình quản lý cư trú tại Việt Nam đã có những bước
chuyển mình quan trọng, hướng tới mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính và
đẩy mạnh chuyển đổi số. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
lợi của người dân mà còn tạo ra những chuẩn mực mới trong việc đăng ký thường
trú và tạm trú. Bài viết dưới đây, XTLaw sẽ cùng trao đổi với bạn một số quy
định mới về đăng ký thường trú, tạm trú theo Nghị định 58/2026/NĐ-CP.
1.
Quy định
về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên
Theo Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định: “Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày người chưa
thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc chủ hộ hoặc người giám
hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai
báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên. Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên có nơi thường
trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người chưa thành niên được
đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ”; “Trường
hợp đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú lần đầu cho người chưa thành niên theo
quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì cơ quan đăng ký cư trú không phải
thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện về tính hợp pháp của chỗ ở và tình trạng
cư trú”, với
quy định này, đối tượng áp
dụng là toàn bộ người chưa thành niên (là người chưa đủ mười tám tuổi theo quy
định tại Khoản 1 Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015) gắn liền trách nhiệm với cha, mẹ, đồng thời cơ quan đăng ký
cư trí không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện về tính hợp pháp của
chỗ ở và tình trạng cư trú khi đăng ký thường trú, tạm trú cho người chưa thành
niên.
Trong khi đó Nghị định 58/2026/NĐ-CP, phân định
rõ quy định đối với người dưới 6 tuổi, đồng thời mở rộng vai trò của người giám
hộ trong việc đăng ký cư trú, cụ thể:
Nghị định 58/2026/NĐ-CP quy định: “Trong thời hạn tối đa
60 ngày,
kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc
chủ hộ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục
đăng ký
thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên. Trường hợp cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 6 tuổi có nơi thường trú
nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người dưới 6 tuổi được đăng ký
thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ”; “Trường hợp đăng ký thường trú hoặc tạm trú cho
người dưới 6 tuổi tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ, người giám hộ
theo quy định tại Khoản 2 điều này thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực
hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú”.
Như vậy, theo quy định mới, bổ sung thêm người giám hộ vào nhóm chủ thể chịu trách nhiệm
đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú đối với trường hợp cha, mẹ, người giám hộ có nơi thường trú nhưng không phải nơi
đang thực tế sinh sống, đồng thời quy định này chỉ áp dụng cho người dưới
6 tuổi thay vì toàn bộ người chưa thành niên theo quy định cũ trước đây. Bên
cạnh đó, chỉ trường hợp đăng ký thường trú, tạm trú cho người dưới 6 tuổi thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực
hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. Do vậy, đối với việc đăng ký cư trú cho nhóm từ 6
tuổi trở lên cơ quan đăng ký cư trú sẽ phải thực hiện
kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú.
2.
Thủ tục về
việc xóa đăng ký thường trú từ ngày 15/03/2026
Thứ nhất, quy định cụ
thể về thời hạn cơ
quan đăng ký cư trú phải thực hiện việc xóa đăng ký thường trú
và cập nhật việc xoá đăng ký thường trú trên Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư.
So với quy định tại Điều 9 Nghị định
154/2024/NĐ-CP trước đây, Nghị định 58/2026/NĐ-CP bổ sung quy định cụ thể
về thời hạn cơ quan đăng ký
cư trú phải thực hiện việc xóa đăng ký thường trú và cập nhật việc xoá đăng ký
thường trú trên Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, theo
đó, trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được quyết định huỷ bỏ đăng ký thường trú của
thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi cơ quan đăng ký cư trú ra quyết
định huỷ bỏ đăng ký thường trú với công dân, cơ quan đăng ký cư trú phải thực
hiện việc xóa đăng ký thường trú và cập nhật việc xoá đăng ký thường trú trên
Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đây là quy định mới mà Nghị định
154/2024/NĐ-CP không quy định, với quy định này giúp tăng tính chủ động của cơ
quan quản lý, đảm bảo kịp thời cập nhật thông tin cư trú của công
dân.
Thứ hai, dẫn chiếu cụ thể các trường hợp cụ thể theo Điều 24 Luật
Cư trú 2020.
Theo quy định tại Nghị định
154/2024/NĐ-CP chỉ quy định chung “người thuộc trường hợp bị xoá đăng ký thường
trú”.
Trong khi đó, Nghị định 58/2026/NĐ-CP dẫn chiếu cụ
thể đối tượng thuộc trường
hợp bị xóa thường trú và thời gian thực hiện để người dân dễ dàng nắm bắt,
thực hiện đúng quy định, cụ
thể:
- Trường hợp thuộc điểm a, đ Khoản 1 Điều
24 Luật Cư trú 2020 (ví dụ: chết, mất tích, thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc
tịch Việt Nam,..) thì cơ quan đăng ký cư trú xử lý trong 01 ngày sau khi nhận
thông tin phản ánh từ cơ sở dữ liệu quốc gia;
- Trường hợp thuộc điểm b, d, e, g, h, i
Khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú 2020 (ví dụ: chuyển nơi thường trú, chỗ ở không còn
hợp pháp,...) thì hộ gia đình hoặc người đại diện phải thực hiện thủ tục xóa
đăng ký thường trú trong thời hạn 07 ngày kể từ có người trong hộ thuộc diện
xóa thường trú. Đồng thời, các đối tượng thuộc trường hợp này nếu hộ gia đình
chỉ có 01 người hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật
không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú thì cơ quan đăng ký cư trú có
trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia
đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú và thực hiện xóa đăng ký
thường trú đối với công dân.
Thứ ba, về cách thức nộp hồ sơ.
Theo quy định tại Nghị định
154/2024/NĐ-CP, người thực hiện thủ tục nộp 01
hồ sơ bằng phương thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công
ích đến cơ quan đăng ký cư trú.
Trong khi đó, tại Nghị định 58/2026/NĐ-CP, phương thức nộp trực tiếp và qua dịch vụ
bưu chính đã bị loại bỏ và thay thế bằng nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ
công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư
trú.
3. Quy định mới về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú
Tương tự như thủ tục xoá đăng ký thường
trú, thủ tục xoá đăng ký tạm trú cũng có những điểm mới như sau:
Thứ nhất, quy định cụ thể về thời hạn cơ quan đăng ký cư trú phải thực
hiện việc xóa đăng ký tạm trú và cập nhật việc xoá đăng ký tạm trú trên Cơ sở
dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
So
với quy định tại Điều 10
Nghị định 154/2024/NĐ-CP trước đây, Nghị định 58/2026/NĐ-CP bổ sung quy định cụ
thể về thời hạn cơ quan
đăng ký cư trú phải thực hiện việc xóa đăng ký tạm trú và cập nhật việc
xoá đăng ký tạm trú trên Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư, theo đó, trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được quyết định huỷ bỏ đăng ký tạm trú của
thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi cơ quan đăng ký cư trú ra quyết
định huỷ bỏ đăng ký tạm trú với công dân, cơ quan đăng ký cư trú phải thực
hiện việc xóa đăng ký tạm trú và cập nhật việc xoá đăng ký tạm trú trên Cơ sở
dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư..
Thứ hai, dân chiếu cụ thể các trường hợp cụ thể theo
Điều 24 Luật Cư trú 2020.
Theo quy định tại Nghị định
154/2024/NĐ-CP chỉ quy định chung “người thuộc trường hợp bị xoá đăng ký thường
trú”.
Trong khi đó, Nghị định 58/2026/NĐ-CP dẫn chiếu cụ thể đối tượng thuộc trường hợp bị xóa tạm trú và thời
gian thực hiện để người dân dễ dàng nắm bắt, thực hiện đúng quy định,
cụ thể:
-
Trường hợp thuộc
điểm a, d, đ Khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú 2020 (ví dụ: chết, mất tích, thôi quốc
tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, đã được đăng ký thường trú tại chính
nơi tạm trú,...) thì trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hệ thống Cơ sở
dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận thông tin thông
qua kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác do cơ quan, tổ chức quản lý, cơ quan đăng ký
cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với
công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cư;
-
Trường hợp thuộc
điểm c, e, g, h Khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú 2020 (ví dụ: vắng mặt liên tục tại
nơi tạm trú,...) thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người
thuộc diện xóa đăng ký tạm trú thì người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc
đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện hợp pháp có trách nhiệm thực hiện thủ
tục xóa đăng ký tạm trú. Đồng thời, các đối tượng thuộc trường hợp này nếu hộ
gia đình chỉ có 01 người hoặc người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại
diện hộ gia đình hoặc người đại diện hợp pháp không thực hiện thủ tục xóa đăng
ký tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập
biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa
đăng ký tạm trú và thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân.
Thứ ba, cách thức nộp hồ sơ
Tương tự thủ tục
xoá đăng ký thường trú, đối với thủ tục xoá đăng ký tạm trú, tại Nghị định
58/2026/NĐ-CP, phương thức nộp trực tiếp và qua dịch vụ bưu chính đã bị loại bỏ
và thay thế bằng nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng
dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú.
Như vậy, có thể thấy Nghị định
58/2026/NĐ-CP đã bổ sung và làm rõ nhiều điểm mới quan trọng trong việc đăng ký
thường trú, tạm trú, như siết chặt thời hạn, phân loại rõ nhóm đối tượng, đẩy
mạnh số hoá thủ tục, đặc biệt là ưu tiên bảo đảm quyền cư trú đối với trẻ em
dưới 6 tuổi. Những quy định này không chỉ nâng cao tính minh bạch, thống nhất
trong quản lý cư trú mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân khi thực
hiện thủ tục hành chính. Việc nắm vững và thực hiện đúng các quy định mới sẽ
giúp mỗi cá nhân, hộ gia đình bảo đảm quyền lợi cư trú hợp pháp, đồng thời góp
phần xây dựng hệ thống quản lý dân cư hiệu quả và phù hợp với thực tiễn đời
sống xã hội.
