Công ty luật TNHH XTVN
Gọi Ngay
+84865766989
Chúng tôi luôn làm việc tận tâm trong mọi  Cuộc gọi ngay bây giờ
Hỏi đáp TẠI SAO ĐƯỢC BẢO HỘ TỰ ĐỘNG NHƯNG VẪN CẦN ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ?


            Không ít trường hợp tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm nhưng lại rơi vào thế bất lợi khi tranh chấp, chỉ vì không có đủ căn cứ chứng minh quyền của mình. Trong khi đó, pháp luật lại quy định quyền tác giả được bảo hộ tự động mà không cần đăng ký. Vậy tại sao trên thực tế, việc đăng ký quyền tác giả vẫn được xem là tấm lá chắn quan trọng?

1. Quyền tác giả là gì? Quyền tác giả phát sinh từ thời điểm nào?

            Căn cứ khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về định nghĩa quyền tác giả như sau:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

            Căn cứ Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền cơ bản là quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong đó, quyền nhân thân gắn liền với tác giả như quyền đặt tên, đứng tên và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, còn quyền tài sản liên quan đến việc khai thác giá trị kinh tế của tác phẩm như sao chép, phân phối hoặc cấp phép sử dụng.

            Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về căn cứ phát sinh, xác lập quyền tác giả như sau:

Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất l­ượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

            Như vậy, khi một người tạo ra một tác phẩm như bài viết, hình ảnh, video, âm nhạc hay thiết kế, thì ngay tại thời điểm tác phẩm đó được hình thành và thể hiện dưới dạng vật chất nhất định, họ đã phát sinh quyền tác giả mà không cần thực hiện bất kỳ thủ tục đăng ký nào.

2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

            Căn cứ Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về điều kiện bảo hộ quyền tác giả như sau:

Điều 13. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

1. Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.

2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1 Điều này gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

            Như vậy, quyền tác giả trước hết thuộc về những cá nhân trực tiếp sử dụng lao động trí tuệ để sáng tạo ra tác phẩm. Đồng thời, quyền này cũng có thể được mở rộng tới các tổ chức, cá nhân khác trong trường hợp họ là chủ sở hữu hợp pháp, chẳng hạn như chính tác giả hoặc các đồng tác giả hay Nhà nước, hoặc thông qua các căn cứ như giao nhiệm vụ, ký kết hợp đồng, thừa kế hay chuyển giao quyền. Ngoài ra, pháp luật bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài trong hai trường hợp: một là tác phẩm được công bố lần đầu hoặc công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố ở quốc gia khác; hai là dựa trên các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

            Tại khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:

Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí; d) Tác phẩm âm nhạc; đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

i) Tác phẩm kiến trúc;

k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.”

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Ngoài ra, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

3. Vì sao cần đăng ký quyền tác giả?

            Theo nguyên tắc bảo hộ tự động như đã phân tích ở trên, quyền tác giả đối với tác phẩm sẽ phát sinh ngay tại thời điểm sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Do đó, việc đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để xác lập quyền, mà quyền của tác giả và chủ sở hữu vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ kể cả khi chưa thực hiện thủ tục hành chính này.

            Dù vậy, trong môi trường kinh doanh cạnh tranh và đầy rủi ro pháp lý như hiện nay, việc chủ động đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả chính là bước đi chiến lược nhằm chuyển đổi từ vị thế tự bảo vệ sang quyền kiểm soát tuyệt đối tài sản trí tuệ. Đây không đơn thuần là một thủ tục hành chính, mà là quá trình xác lập một rào chắn để bảo vệ thành quả lao động trí tuệ của cá nhân và doanh nghiệp.

Lợi thế pháp lý quan trọng nhất của việc đăng ký chính là khả năng miễn trừ nghĩa vụ chứng minh khi phát sinh tranh chấp. Khi có tranh chấp xảy ra, tác giả hoặc chủ sở hữu thường đối mặt với thách thức lớn trong việc chứng minh thời điểm xác lập quyền nếu thiếu đi các chứng cứ khách quan. Căn cứ theo khoản 3 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung bởi Điều 62, 63 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan như sau:
Điều 49. Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan

3. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Như vậy, việc đăng ký quyền tác giả sẽ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm và khi có tranh chấp nghĩa vụ chứng minh quyền này sẽ đẩy sang phía đối thủ.

Ngoài ra, căn cứ theo khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về tài sản góp vốn, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có giá trị tương tự tài sản khi cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động góp vốn hoặc chuyển nhượng trong doanh nghiệp. Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký được thực hiện bởi Cục bản quyền tác giả, theo đó, chủ sở hữu tác phẩm sớm sẽ được sở hữu và sử dụng độc quyền tại Việt Nam. Bất cứ hành vi sử dụng tác phẩm nào mà chưa được sự cho phép của chủ sở hữu đều sẽ bị coi là xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm.

Cuối cùng, đăng ký quyền tác giả giúp tạo ra giá trị kinh tế cho tác phẩm và các bên liên quan. Việc có quyền sở hữu trí tuệ đăng ký giúp tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư, nhà sản xuất và người tiêu dùng, từ đó tạo ra cơ hội kinh doanh và thu nhập cho tác giả và các bên liên quan.

            Tóm lại, mặc dù quyền tác giả được xác lập dựa trên nguyên tắc bảo hộ tự động, nhưng việc chủ động thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả vẫn là một chiến lược quản trị rủi ro thông minh và cần thiết. Giấy chứng nhận đăng ký không chỉ là tấm khiên pháp lý vững chắc giúp doanh nghiệp miễn trừ nghĩa vụ chứng minh khi có tranh chấp, mà còn là tài sản có giá trị kinh tế thực tế trong các hoạt động góp vốn và chuyển nhượng. Để tối ưu hóa quyền lợi và bảo vệ thành quả sáng tạo một cách toàn diện, các tác giả cần sớm thực hiện thủ tục đăng ký quyền tác giả. 



Công ty luật TNHH XTVN
Hotline: 0865766989
Công ty luật TNHH XTVN Chat FB với chúng tôi
Công ty luật TNHH XTVN