+84865766989
Bản án số 191/2026/HS-PT ngày 27/03/2026 do Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên ngày 27/03/2026.
1. Tóm tắt diễn biến vụ án:
Bà D1 và chồng C
là chủ sử dụng thửa đất số 101, có thỏa thuận bán cho bị cáo Nguyễn Thị Phương
H thửa đất với giá 18 tỷ đồng cấn trừ số nợ 24 tỷ đồng bà D1 nợ bị cáo H. ngày
18/06/2019, ông C và bà D1 ký hợp đồng ủy quyền toàn phần thửa đất trên cho T,
rồi ngày 19/06/2019, bị cáo T và bị cáo H chuyển nhượng thửa đất trên từ T là
người nhận ủy quyền sang cho H. Nội dung chuyển nhượng là 5 tỷ đồng, không đúng
với thực tế là 18 tỷ đồng, chênh lệch 13 tỷ nhằm mục đích trốn thuế.
Sau khi đăng ký đứng
tên, bị cáo H bán cho bị cáo Q1 với giá trị hợp đồng là 3 tỷ đồng, chênh lệch
15 tỷ đồng nhằm mục đích giảm tiền thuế nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo Q1 và H
đã sử dụng các hợp đồng nêu trên để làm cơ sở khai nộp thuế và được cấp GCN
QSDĐ.
2. Nhận định của Tòa án:
Với việc khai khống
giá trị thực tế giao dịch đã giúp bị cáo Nguyễn Thị Phương H thực hiện hành vi
trốn thuế với số tiền là 214.072.830 đồng. Bị cáo T biết giá trị chuyển nhượng
thực tế nhưng vẫn đồng ý ký hợp đồng giá
trị thấp hơn nhằm giúp sức cho bị cáo H thực hiện hành vi trốn thuế nên
hành vi của bị cáo T phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Ngoài ra, việc
khai khống giá trị thực tế giao dịch đã giúp cho Q1 thực hiện hành vi trốn thuế
với số tiền trốn là 212.696.830 đồng. Bị cáo H biết việc giá trị chuyển nhượng
thực tế và đồng ý ghi giá trị chuyển nhượng trên hợp đồng là 3 tỷ đồng nhằm
giúp sức cho Q1 thực hiện hành vi trốn thuế. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn
Thị Phương H, Võ Đức Q1 và Trần Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế”
theo Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuy nhiên, tại
phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị
cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo phạm tội
do hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu
quả; bị cáo là người trình độ văn hóa thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế, bị cáo
chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng nên được áp dụng các tình tiết
giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
2015.
Căn cứ vào điểm d
khoản 2 Điều 200; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58; Điều 65
của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo
Nguyễn Thị Phương H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội
“Trốn thuế”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên
án phúc thẩm (ngày 27/03/2026).
Căn cứ vào điểm đ
khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) về tội “Trốn thuế”.










